Văn

GASTON (AHMAD) NHI 7 October, 2022

Truyện ngắn của Đỗ Kh. Ành: Đỗ Kh.

Đến lần thứ mười, hắn gọi điện thoại mới gặp được Alex.

– Thu biết chuyện Gaza rồi chứ?

– Rồi.

Hắn thở hắt ra như người sắp lâm chung. Giọng nói sao mà ngọt ngào thế. Tự nhiên hắn nhớ lại hai câu thơ dạo nào

“Sáng ra cạo râu bằng tiếng chào lưỡi lam,
giọng nói em móc chéo sợi len tình cảm”

Bây giờ đang tối. Lại là tối bắt đầu hơi trễ nữa.

Từ chiều đến giờ, lúc thì máy bận liên miên, lúc thì không ai nhấc, lúc thì gặp phải băng thu thanh nhắn gọi số này số kia. Ở Paris, cột điện thoại công cộng không đủ nhu cầu, cái chạy cái không, lúc nào cũng có người làm đuôi. Hôm nay cuối tuần người ta rủ nhau đi chơi. Hắn thấy hơi bực mình. Cái chuyện Gaza làm hắn lo từ vài hôm nay. Đúng ngay. Muốn biết Alex có bận hay không, chỉ việc đọc báo. Trang quốc tế, mục Trung đông, nếu tin lớn hơn hai cột là Alex bận lắm, bận lắm, hẹn không thể nào xong. Đằng này, trang nhất, mấy ngày liền, lại có chết người nữa, làm sao mà được. Nghe Alex kể lể còn phải làm những gì, nào là đêm qua ngủ không được bốn tiếng, mới vừa họp ra khản cả cổ, quên chai thuốc ho ở nhà, đêm nay còn chạy mười ngàn tờ truyền đơn, hắn ậm ừ, chỉ lo tính việc hắn. Giờ này coi phim cũng lỡ suất, lại đói bụng nữa. Cái đói bụng là quan trọng mà vào tiệm ăn một mình chiều thứ Sáu làm sao coi được. Hắn nài nỉ:

– Đằng nào cũng phải ăn, mày chạy ra đây đi, gần mà…

Lần nào gọi, Alex cũng hỏi mày đang ở đâu, làm như hắn đi du lịch thường xuyên lắm, lâu lâu mới có dây nói tận từ đâu chào hỏi. Gần mà, có bốn trạm tàu điện ngầm.

Nhưng thế vẫn còn xa lắm, Alex không có cả thì giờ để ăn, hắn nghe Alex đọc tiếp thời khoá biểu đâm sốt ruột. Đằng nào cũng lỡ, thôi thì vuốt nhẹ:

– Còn cái bài cho Tập San Nghiên Cứu mày đến đâu rồi?

Cái não nuột ở đầu dây bên kia làm hắn thấy thỏa mãn được đôi chút. Bận hả? Ừ thôi, để tạo đi ăn một mình, mày nhịn ăn chạy cuống cuồng, lại không có chai thuốc ho, tội nghiệp chưa, không có người vỗ lưng lúc đang khù khụ, biết ai buồn hơn ai.

Alex có bồ, gọi là ở chung nhưng có vẻ tiếp viên hàng không hay sao đó, hành tung bí mật, lúc đi lúc về không sao biết trước nên đi chơi được với Alex cũng là cả một việc gian nan quá sức của hắn. “Khi nào bồ tao nó có nhà, tạo không đi chơi với mày được.” Đã đành đi. Gặp lúc bồ đi vắng, tại sao dân Palestine những vùng đất bị chiếm lại biểu tình?

Có hôm, lợi dụng lúc về đêm, đang chờ đèn đỏ để băng ngang đường, Alex đã tâm tình với hắn một câu tự thú:

– Tao nói thật nhe, tao thích đàn bà.

Bộ tao chưa biết sao, hắn trả lời ngay:

– Tao cũng vậy, mình có thể hợp nhau.

– Tao khác, mày khác.

– Không, tao thích theo ý mày muốn nói vậy. Nhiều khi, tao thấy tao là đàn bà.

Alex lại là đàn bà. Thành ra hắn cũng chăm đi chơi với Alex tại đàn bà thì hắn thích thật, không biết Alex thích ra sao. Bạn trai của hắn ở Paris, từ lâu rồi, chẳng còn ai, vợ con, công việc hay rồi không hợp nữa thì cũng phải. Hắn nhớ lúc còn rất nhỏ, bạn bè của bố mẹ lại chơi, sau khi kiểm điểm những anh gì chị gì giờ ra sao giờ ở đâu, bố hắn chép miệng một câu:

– Nhớ dạo trước vẫn thường xuyên. Rồi thì mấy năm nay, chẳng còn gặp ai nữa.

Câu nói làm hắn buồn mãi. Tại sao bố mẹ hắn lớn rồi, đâu có cần ai phải dắt hay cho phép đi chơi mà bạn bè lại không gặp. Hắn có cấm cản đâu mà người lớn lại ưa đổ tại con. Bạn bè của bố mẹ hắn thấy ai cũng được hết, lịch sự, gặp hắn ai cũng khen ngoan, khen giỏi, tử tế, gặp hắn ai cũng quà cáp kẹo bánh, đồ chơi. Có lẽ, cái tiếc đó cũng không phải là tiếc bạn hẳn; chỉ là tiếc mình. hay tiếc thời và cái đổ lỗi đó cũng không phải là đổ lỗi hẳn cho hắn, sự có mặt của hắn chỉ là một dấu đánh để nhìn vào mà thở dài.

Hắn tránh một lúc ba cặp học trò đang ôm vai bá cổ hôn hít trên vỉa hè. Đúng ra thì phải là một quang cảnh cảm động nhưng đám này vừa ở cái Burger King ra làm hắn lại có vẻ ghét. Tiệm Fast Food mới mở ở khu Montparnasse này ngay cạnh La Coupole, Le Dôme, làm hắn giận lây mấy người tình măng sữa. Ngày trước, cũng ngay trên vỉa hè này, người Mỹ gửi qua đây được Ezra Pound, Miller, Dos Passos, Hemingway. Giờ họ chỉ gửi qua đây được Big Mac, Swiss ‘n Cheese, Filet o’ Fish và Chicken Nugget. Có lẽ, Alexandra không có đây để mà hắn thủ thỉ qua đêm cũng làm hắn quá đáng. “Ừ, cứ yêu nhau đi, ra sao rồi mười năm nữa cho tao biết” hắn nói thầm. Paris cuối mùa thu năm nay vẫn còn chưa thấy lạnh, các cô bé đệ tam đệ nhị này coi đều dễ thương, ơ hay, hay là lại đi ghen với mấy cậu con trai nhiều diễm phúc này:

Mười năm sau. Mười năm sau ra sao kệ người ta. Hắn nhất định la cà một mình tối nay đi tìm Gaston.

.

Mười năm về trước hay đúng ra là trước cả đó nữa, khi mà thời cuộc chưa đưa đẩy Quận 13 trở thành nơi nhộn nhịp Hoa Việt trước các cửa chợ và hàng quán Á Đông, huyên náo Miên Lào trong các hành lang của khu phố nhiều cao ốc này thì Gaston là một trong những cột trụ của cộng đồng ở Paris. Dạo đó, trong giới người Việt, nằm nhà có vài nhà bác học uyên thâm, ngồi salon có năm ba chính khách thất thời, ở trường nào cũng có rải rác vài đám sinh viên học sinh. Nhưng ra ngoài đường đi chơi, là phải gặp Gaston. Lúc đó, điểm tập trung các tiệm Việt Nam ở quận 5, cũng là nơi dạo phố và tụ họp các trường ốc nên một nơi đôi ba việc, muốn tìm người Việt chỉ cần lang thang quận 5, gặp nhau có lạ mặt cũng làm quen, bàn cãi, có bất đồng cũng không hiềm khích, cộng đồng vì ít ỏi nên lấy cái gắn bó đồng hương làm gốc. Tìm khắp Âu châu, không ở đâu có cảnh thanh niên thiếu nữ ăn bận theo thời trang Hồng Kông chân đi roller skate lưng đeo compact disc đuổi rượt nhau giữa hai đường Avenue d’Ivry và Avenue de Choisy như bây giờ, hay là cảnh cụ già đầu quấn khăn mỏ quạ dẫn cháu lẫm chẫm ra chợ đường Belleville. Gaston, cũng nhờ cái hiếm hoi đâm ra quí hóa ấy mà trở thành một nhân vật tung hoành lưỡng quận 5, 6, dọc ngang khu La tinh, từ công trường Maubert đến công viên Montparnasse, từ vườn Lục Xâm đến vòi nước Saint Michel, đến nỗi trở thành điển tích; câu nói quen, “Ê coi chừng ra đường gặp Gaston” dọa nhau như mẹ dọa con khóc “mày coi chừng cảnh sát bắt”, xuống phố chơi không mục đích nhất định trở thành thành ngữ “đi thăm Gaston” cũng như tân binh thu huấn xa nhà thất thểu ngày Chủ nhật trong vườn Tao ngộ được các “Bà Sơ thăm”.

Gaston, vì ở Pháp nên được gọi là Gaston. Có người gọi theo kiểu Việt Nam là Gaston Nhi nhưng đó là tên thật của y, chứ không phải kiểu gọi đùa Ro-Be Lúa, Ma-Ri Gánh nước, thẻ căn cước quốc tịch Pháp của y mà hắn có lần được xem đề cẩn thận lý lịch là Họ: Nguyễn Văn, tên: Gaston, Ahmad, Nhi.

Người Pháp có thói quen đặt ba tên, như người Mỹ hay có tên đệm (nếu theo sách vở Mỹ thì y là Gaston A. Nguyen-Van), Cái tên Nhi chỉ đứng ở hàng thứ ba, sau cái tên Pháp và cái tên Ả rạp không biết từ đâu có. Y không cho biết và cũng chẳng ai gọi y là Ahmad Nhi nên y cũng không cần. Hắn chỉ đoán chắc Gaston mẹ Việt đã đành nhưng cha không hẳn là người Pháp gốc Tây nên mới dùng một trong những tên gọi của thiên sứ đạo Hồi mà đệm cho y. Cụ thân sinh ra Gaston, chắc hẳn là phải gốc người Bắc Phi trong hàng ngũ Viễn Chinh quân đội Pháp lính tirailleur, zouave hay méhari gì đó, định mệnh đẩy đưa từ một cái oued khô cằn sa mạc nào ở Algérie sang đến tận ta cầm súng dưới cờ tam tài. Tuy mang quốc tịch huy hoàng của nhà nước bảo hộ, lấy vợ Việt Nam nhưng trong lòng ông nhất định vẫn còn lưu luyến với cố hương đồi cát trùng điệp nên ông mới quay mặt về phía Mecca đặt cho con trai một cái tên như thế. Ở giữa tên Tàu và tên Tây, làm gạch nối cho cả ba nền văn hóa.

Nhưng Gaston, nguồn gốc của ông cha lại lấy làm xấu hổ nên chẳng bao giờ thổ lộ cho ai cả. Có lẽ là ở Pháp có rất nhiều người Bắc Phi Ả rạp thường dành lấy những việc vất vả nên người bản xứ có ý khinh rẻ và ngay cả ta cũng vì thế mà ghét lây. Việt Nam, tuy cũng là thuộc địa cũ nhưng văn minh bốn ngàn năm của mình có khác, ngoài Bắc có Chùa Một cột, ở Trung có chùa Thiên Mụ, trong Nam có những chùa Xá lợi, Ấn Quang và Vĩnh Nghiêm, không ví được với bọn người lam lũ này. Người Việt ta, phần đông lại đi học tử tế, hoặc về nước làm lớn sau này, có ở lại quay ra mở hàng quán thì cũng có cái cao học, tiến sĩ thủ sắn dưới quầy tính tiền chứ không nhan nhản làm đường làm cống, xiết đinh ốc vặn bù loong kém phần long trọng như những người Bắc Phi. Người mình dạo đó còn hiếm, chỉ có số ngàn, mà họ thì lại đông, đến cả triệu, tụ hợp thành cả từng khu phố nặng mùi harissa, ăn nói ồn ào, vợ con lếch thếch, ăn mặc kém văn minh, đầu đội fez chân đi dép lẹp kẹp, thân mang áo ống thùng thình màu sắc man rợ chẳng giống ai. Ta đã thanh tao lại được giá nhờ cái lạ ở xa, đâu có phải ngay bên kia bờ Địa Trung Hải.

Cho nên, cái tên Ahmad đó đối với Gaston là tên húy, y dấu nhẹm và quên đi mất, tuy rằng như thế là đắc tội với tiền nhân bên nội. Cũng chẳng phải lỗi y, ai bảo, thứ tổ tiên gì mà chỉ vào đến được nửa nước Pháp đã bị Charles Martel năm 932 đánh ở Poitiers cho đại bại. Nếu đã có công khai hóa các vùng đất Âu Châu còn lạc hậu thời Trung Cổ thì cũng chỉ quanh quẩn mấy vương triều Ả rạp ở Tây ban nha, bên kia rặng Pyrénées cơ mà, cái đó Gaston ở bên này rặng nên không được biết. Mà có biết, chắc gì Gaston đã lấy làm vênh váo như các anh Ả rạp nhiều tự ái dân tộc ngồi quán nước biểu diễn với đầm tây.

Này nhé, mày đang uống nước kahuna mà chúng bay gọi trại ra là café, ở trong cái tách, tassa, Pháp gọi là tasse, lại đặt trên cái bàn, maida, xì gọi là mesa. Đứng dậy trả tiền, nếu thấy đề 10 quan (chứ không phải X quan) thì nhớ đến đó là số Ả rạp và có mệt về nhà ngả lưng ra đi-văng, diwan, thì cũng đừng có quên tụi tao.

Đấy là chỉ nói chuyện tầm phào, người Âu ngày xưa không có cái ghế ngả lưng đã đành, nhưng ai là người lưu giữ lại văn minh Hy Lạp cho chúng mày, triết học, toán học, tinh học và y học? Ai dịch ra và tồn trữ Aristote, Ptolemée và Euclide, nếu không có thư viện Cordoba ở ngay châu Âu thì chắc gì đã có Galilée để ngày nay vô tình gặp nhau còn nhắc nhở “Ở quả đất tròn nhỉ?” Nào là, vân vân và vân vân. Nhưng nếu đem ra đối chọi thì Nhi cũng chẳng thua Ahmad. Thử hỏi, ở Việt Nam nếu không có Trần Đoàn chiêm tinh thì tướng số làm sao có Huỳnh Liên, còn nói về ảnh hưởng đến tận ngôn ngữ Pháp thì thí dụ “Cô nhà thổ uống trà trên ghe khi trời bão lớn” phải dịch làm sao?

“La congai boit du thé sur le sampan pendant le typhon.

Chẳng cần đến linh tinh café và đi-văng.

Ở đây, nghĩ mà xem, ngoài việc dẫn chứng xuông việc vay mượn tầm thường của những chữ tam bản, đại phong, còn thoát tiết ra được cái cao siêu thiền học của văn minh ta, dung hòa được động và tính, không chấp chờn như biện chứng Hégel, ôi, người con gái uống trà tuy đã phải bán thân nhưng còn nhâm nhi được cái tinh khiết, trên đẩy đưa của mặt nước, bình thản giữa phong ba, vượt qua biến hóa cái chòng chềnh (hơn cả Aufhebung, phải gọi là Aufhe lung tung), lung linh hơn dòng suối lửa Feuerbach, thuận được thủy và hỏa. Thày hỏi:

– Cô ấy làm gì?

– Cô ấy làm đĩ.

– Không, thày hỏi, cô ấy đang làm gì?

– Cô ấy uống trà.

– Ở đâu?

– Thày hỏi làm đĩ hay uống trà ở đâu?

– Thày hỏi cả hai.

Thì ra cô đi uống trà trên ghe tam bản (luận?) trong cơn bão lớn. Thày bảo “đấy là Thiền đó” (Das es Ist). Đấy là Zen. Đấy là Zeit. Đây là trà hun hơi. Đấy là Zen hun Zeit.

Sao bảo ta không ảnh hưởng được Âu châu về cả triết học, không có ta chắc gì đã có Heidegger, khỏi mang Hunayn Ibn Ishak với Avirroes ra mà lòe.

Này nhé, trà người Ả Rập gọi là gì? Tchai phải không? Thế thì nó ở đâu mà ra?

Thật ra, ở trong con người Gaston không có cái cảnh giằng co hai mặt giữa Doctor Nhi và Mister Ahmad. Gaston đã lựa chọn từ lâu nơi sinh trưởng, nhận lấy nơi đó làm quê hương, dù mang quốc tịch nào hay tên có đệm chữ Ả rạp đi chăng nữa. Gaston chỉ biết mình là người Việt Nam.

*

Lần đầu tiên hắn gặp Gaston là vào lúc khoảng hai ba giờ sáng. Giờ đó phố đã vắng, là cái giờ giữa chuyến tàu điện chót và chuyến tàu điện đầu tiên nên chỉ còn những kẻ lãng tử kẹt lại trên phố đi lang thang. Mới vừa nhìn nhau qua Gaston đã tự động làm quen:

– Ê toi người Việt Nam hả?

– Ừ, moi Việt Nam.

– Giờ này đi đâu vậy, có chuyện gì không?

– Không moi đi chơi vậy thôi.

Vậy là Gaston rủ vào quán uống nước.

Về sau, gặp Gaston phải bảo là bận lắm, moi có chuyện gấp, dù là ba giờ sáng ở trên phố. Nhưng hắn lúc đó đâu đã biết, nên đi theo Gaston vào quán. Gọi nước xong y còn thận trọng:

Toi có tiền không, moi đói bụng gọi cái gì ăn.

Được sự yểm trợ của đồng hương gật đầu chấp thuận, y búng tay gọi bồi mang này mang kia ra ngon lành. Hắn đã để ý ngay cái vẻ kém văn minh của y, đã là người không có tiền dằn túi còn hạch sách mấy anh chạy bàn. Hay là, cái đó là do dòng máu Ả rạp của y cũng nên, ảnh hưởng cung cách mấy ông hoàng dầu lửa bên phía nội coi vô cùng khiếm nhã chứ người Việt ta nào có thế. Luật di truyền cũng lạ, thành thử ra cái tính chắc là phải Ả rạp đó của Gaston làm mọi người phải tránh né y. Lân la ngoài phố, nếu gặp người Việt thì Gaston rủ ngay họ bao y đi ăn nhậu, cái đó cũng chẳng tốn kém bao nhiêu, ai cũng có thể xiêu lòng được, nhiều khi lại vui lòng là khác. Ăn chực, nằm chờ, chơi ké cũng chả sao nhưng dần dà giao du bất đắc dĩ với y hắn rất ngại cái khó khăn về thể diện. Mà ai cũng thế, bao thầu cho y là việc dĩ nhiên, nếu mà đưa tiền cho y để đi khuất thì ai cũng muốn làm, còn đàn đúm với Gaston ngoài phố lại là chuyện khác. Vì câu nệ cái tình đồng hương, nói lại là thủa đó rất hiếm hoi, nên hắn cũng bắt buộc gánh vác việc đó.

Mà đồng hương thì cái đó là cái chắc. Gaston mặt mũi, tầm vóc đều bên ngoại cả, một trăm phần trăm. Không được ăn sữa lúc bé (dù là sữa dê quê nội) nên người hắn cao không quá một thước rưỡi, tuy tướng coi có mập mạp nhờ tẩm bổ nơi quê người, mặt điểm một hàng râu mép rất đặc điểm dân tộc, nghĩa là lưa thưa vài sợi. Phải nói, tuy là ăn nhờ ở đậu nhưng Gaston cũng không phải là phường cái bang hẳn. Lúc nào, y phục y cũng chỉnh tề, tươm tất, có lúc y còn cầm tay cái cặp coi chững chạc. Chỉ có cái y thấp quá, nên mặc quần áo người lớn thì lụng thụng, lại khổ cái y to ngang nên đồ may sẵn cho trẻ em lại xốc xếch không vừa. Nếu kiếm được ra tiền thì Gaston thuộc loại khách lý tưởng của các nhà may Việt Nam mở ra ở hải ngoại sau này. Vì y cũng rất diện, gặp ai có áo quần gì y thấy đẹp, mặc vừa hay không vừa cũng xin “Thôi cho moi đi” cho đến được. Nhờ cái nài nỉ sốt ruột đó nên Gaston phục sức không đến nỗi nào rách rưới, tuy là khó mà vừa vặn được nên dù quần áo nào, có tốt đến đâu, y mặc vào cũng không khỏi cho y cái dáng thất thểu.

Đúng ra, Gaston, thì phải mặc quân phục mới có uy. Nếu ở Việt nam cho y mặc vải Tergal vàng đi xe Jeep có tài xế lái, ra vào dưới quận, trên tỉnh, thì cũng có nhiều người sợ, nhất là y đã có cái thói (đã nói là di truyền từ bên nội) ưa chỉ trỏ đây kia. Vả lại, cũng vì binh nghiệp mà y được đẩy đưa đến xứ này, như cha y ngày trước sang đến tận nước ta. Năm 18, 20 gì đó, Gaston vì mang quốc tịch Pháp nên về mẫu quốc cưu mang lấy cuộc đời võ bị. Y đăng lính nhà nghề, được tòa lãnh sự cấp cho sở phí về Pháp, phục vụ ở miền Nam gần Marseille. Có lẽ vì thời bình nên y không có dịp thi thố đường gươm lưỡi kiếm, lăn lộn mãi chỉ lên được cấp Hạ sĩ, tuy là đã được ông Thiếu tá nào đó gốc Việt tận tình che chở lấy y làm tà lọt. Chán lính Tây, Gaston bỏ miền Nam về Paris giang hồ, xoay sở sống bằng trợ cấp an sinh xã hội, ở cư xá dành cho người lao động độc thân, có lúc vào hàng cơm Việt rửa chén lậu để lấy tiền ăn chơi, nếu cần thì y cũng đi làm cẩn thận, trong đó có việc đáng nói là việc gác đêm nhà xác bệnh viện là việc mà y vẫn khoe khoang. Chi tiêu thì đã có kiều bào lo, nhiều khi không gặp người Việt, y còn bắt được bạn Tây bao y đi nhảy đầm, tuy là tiếng Pháp y lẹp bẹp, người Việt nghe còn không hiểu nổi.

Nếu đã an phận thủ thường thì Gaston đã ở lại trong quân đội, về già ắt phải làm thượng sĩ uống la de Kronenbourg. Đằng này, Gaston rất thích chơi. Các chị Việt Nam vào thời đó rất hiếm (cho nên mới có phong trào “cô dâu đóng thùng” ở nhà cưới hộ gửi sang cho), một vài mạng, không la cà ra khỏi chung cư con gái viện Pháp Việt. Vả lại, các chị đều con nhà quyền thế và học hành cả, nhìn đời bằng con mắt môn đăng hộ đối, nếu có ra đường chẳng may gặp Gaston thì cũng chỉ bĩu môi đi thẳng. Đi chơi thì các chị cũng chẳng bao giờ đi, học ra chỉ lo về nhà làm bánh cuốn mời các anh lại ăn. Trong những cuộc họp mặt trang nhã như thế, nơi mà anh hát tôi đàn, thế sự và các trào lưu tư tưởng được đưa ra phân tích và bàn cãi, đại khái như ở đâu tìm ra được cà cuống để cho vào nước mắm, hay nhiều khi say mùi cà cuống các anh chị cũng mang mì Lacan, La-cay ra mà xi-nhi-phăng xi-ni-phê nhặng xị, thì làm sao có ai mời Gaston. Cho nên, dù muốn dù không Gaston đang vào cái tuổi còn trẻ ham chơi thì cũng chỉ được chơi với đầm.

Đó cũng chỉ là nghe các bậc trưởng thượng cho biết, hắn đem ra suy luận vào trường hợp Gaston. Việt Nam không ai thèm đến mình thì ta phải chơi với đầm. Riêng Gaston, chắc là thuộc vào loại dạng đầm cũng không ai thèm cả nên bắn không bao giờ thấy Gaston đi với ai và cũng không bao giờ nghe Gaston nhắc nhở thành tích cua đào như việc y gác nhà xác đánh nhau cả với ma mà y ưa rêu rao. Gaston, tuy siêng năng ngoài phố nhưng đến việc bắt đào thì cũng như việc đi ăn, nếu có sẵn sự hỗ trợ nào chắc chắn thì y mới thi thố tài năng, lại nhiều khi một cách quá đáng.

Vào bận, hắn đang ngồi quán đợi hai cô bạn, cũng chỉ là loại mới quen, chưa có thân tình, thì tự nhiên Gaston ở đâu đến kéo ghế. Dạo đó, mới vào hè, tài tử giai nhân dập dìu qua lại, người, vật, gì coi cũng đáng ưa hết, hắn chẳng có gì là ngại cả nên niềm nở với y:

– Ừ, ngồi đây chơi năm phút moi đợi mấy nhỏ bạn có hẹn.

– Đầm hả?

Gaston đâm ra sốt sắng. Nhại Prévert mà nói, mặt trời sáng cho tất cả mọi người, không lẽ lại không soi một mình Gaston. Nắng mới là của chung. Hên cho hắn, hai cô này người Mỹ, tiếng Pháp qua loa mấy câu chào hỏi, chắc rồi cũng chỉ nhìn nhau cười, chẳng hại gì. Hai cô đến, hắn có ý nghiêm chỉnh trong câu nói cho Gaston biết:

– Hai chị này mới sang đây học.

Cũng may, người Mỹ không có cái thói hôn má phải má trái dù là với người vừa gặp, thân mật quá trớn kiểu tây đầm. Hai cô ỏn ẻn “Hi” một cái, bàn tay cụp ra cụp vào lịch sự làm hắn hài lòng với chữ “chị” vừa dùng, rất xứng đáng.

Gaston, cho tới đây, cũng chỉ mới cười duyên với hàng râu lếch thếch. Ý thận trọng theo dõi câu chuyện một cách nhã nhặn dù ngôn ngữ bất đồng. Được một lát, chừng nhận định được cô tóc vàng óng ả ngả sang màu bạch kim dưới nắng vào trưa đầu mùa hạ trên vỉa hè trữ tình quán café miền ôn đới này là nhân vật chính được người bạn y rào đón kỹ lưỡng… Tuy là ở đây hắn không dám tả cái vàng vọt nhỏ sợi này nó lòa xòa trên gối nó ra làm sao khi ánh sáng ban mai lọt qua cửa sổ có lưới chắn ruồi như các nhà văn hải ngoại về sau này, biết cô nào là đối tượng của bạn mình rồi, Gaston mới theo đúng luật giang hồ mà hỏi:

– Con nhỏ này tên gì?

Ý chỉ cô tóc nâu.

Cô tóc nâu thấy chỉ vào mình bên nhoẻn miệng cười ngoại giao. Hắn hơi lo. Chữ “em” ta thường dùng với người Việt Nam chúng ta có cái tinh thần tôn trọng, hàm sắc sâu xa, nghĩa là bao gồm cả cái phải xin phép bố mẹ “Thưa bác cháu lại đưa em đi chơi”, có theo đuổi cũng phải làm thơ tình nhờ người ta đưa hộ hay ghép trong trang sách làm bộ như vô tình để quên, trước khi đụng chạm phần trên hay phần dưới thân thể người con gái chia làm ba phần, lại phải chọn nhà in thiệp, lựa tiệm cơm tàu kỹ càng, bấy món hay mười món, một phần bao nhiêu tiền, có ban nhạc sống hay không để tiếp hai họ. Chữ “con nhỏ” thì trái lại, để dùng cho người ngoại quốc không có cái văn minh truyền cửu đó, đầm ấy mà, loại Marie-nằm-xuống-đi như là chính họ còn phải gọi, thứ không cần đăng rao vặt xấu đẹp tùy người đối diện trung bình trên mọi phương diện thư đầu nhờ tòa báo chuyển để làm quen, mới bảo nó ngồi xuống nó đã nằm ngả lưng ra. Nhưng hắn cũng phải nhã nhặn mà ân cần giới thiệu:

– Xin lỗi nhe, chị này là Debbie, còn đây là anh Gaston.

Âu đó cũng là một kinh nghiệm cho hắn. Khi người ta gặp trở ngại về phần ngôn ngữ thì người ta phải tìm cách diễn tả khác. Gaston không lẩy Kiều được, vườn đào đã có ai vào hái nụ tầm xuân hay chưa, không ví von bóng gió, không Thạch Sĩ bia nào là Ophelia với lại Juliet chim hót ban mai thì Gaston đối thoại để trao đổi bằng cách của Gaston. Cách đó thế nào thì hắn không rõ, hẳn là phải nặng lời lắm hay sao mà đột nhiên thấy Debbie giật bắn người đứng dậy, suýt đổ cả bàn cả ghế, rút lui chiến lược một đường thẳng đến cửa ra vào của quán café, thần sắc hốt hoảng tột độ trước sự ngơ ngác của mọi người, kể cả quan khách đang hiện diện trong tiệm nước. Trong khi bằng ấy người quay lại nhìn thì Gaston mặt mày bình thản, điềm nhiên an tọa, chân gác lên đùi, đưa tay lên búng chóc chóc:

– Ê, Đề Bi, Đề bị, cơm hia!

Nhắc đi nhắc lại vài lần, coi bộ cái mời chào kiêu gọi chó con cứng đầu chưa biết nghe đó không thay đổi được tình thế, y bèn phát biểu tiếp tục bằng một tràng hôn gió chùn chụt. Đề Bi, hôn gửi, chụt chụt, Đề Bi, rất là dễ hiểu và nhất là mạnh dạn để cho nàng ở tận mãi đầu kia vẫn còn nghe thấy rõ rệt cái âm thanh trìu mến không thế nào ngộ nhận được này. Debbie, đến nước đó, dở khóc dở cười, bỏ bạn đi hẳn thì không được, lại gần để giải thích thì lại sợ, đành đứng ở cửa mếu máo, vừa giận vừa muốn phì cười. Hắn chỉ còn cách kéo cô còn lại đứng dậy đi theo, nhìn thẳng ra cửa mà tiến, để lại Gaston lời hứa hẹn:

Toi làm chuyện kì khôi, để hồi moi tính với toi sau.

Nhưng rồi hắn cũng không giận được Gaston.

Kỳ sau gặp y, hắn giải thích nhỏ nhẹ thôi là chưa nói được lời làm quen thì đừng có thọc tay vào đùi người ta mà véo, cái đó vừa có tính cách quá gấp rút lại vừa làm người ta đau, không có lợi gì cả. Sự việc đã thế, Gaston còn nói ngang một cách rất là thành thật.

– Con đó nó chịu moi quá mà.

Hắn ngờ ngợ, bán tín bán nghi, không phải là tin là Debbie “chịu” y quá như y khoe nhưng hình như, Gaston có tin vào lời mình nói là thật. Hắn lại bỏ công ra bàn cãi với y trong tinh thần thiện chí và xây dựng:

– Nó chịu toi mà nó lại bỏ chạy đi, đâu có phải.

– Con đó nó mê moi đó, Gaston vẫn một lập luận. Nó mê moi, toi biết gì đàn bà.

Cái tâm lý đàn bà đó, chỉ có Gaston rành, mà y cũng không cần giảng giải cho anh em tỏ.

Về sau, Gaston có dịp làm cho hắn bực mình hơn. Vào hôm, hắn có chuyện lủng củng với người tình dạo đó, hai đứa thiếu điều đánh nhau qua đêm, sáng sớm ra đường ăn sáng, nó vẫn chưa được nguội, lời bấc tiếng chì, nàng chấm croissant vào café sữa khóc thút thít.

Hắn đang gầm mặt, ngửng đầu lên thấy Gaston ngồi ngay bàn mình tự lúc nào, chăm chú theo dõi tình hình gay cấn này tuy cũng bằng thứ ngoại ngữ y không hiểu. Hắn đang giận, cũng chả thèm chào hỏi gì, làm ngơ như là không có y, chỉ lo việc tề gia đang cơn bối rối. Được một lát, chắc ngồi ở ngoài nghe mà ấm ớ không hiểu mãi cũng chán, Gaston lên tiếng:

Moi biết con nhỏ này mà.

Thằng này thật huyên thiên. Hắn vắng mặt Paris đã lâu, hai đứa vừa ở xứ khác về tới, có ông nội mày mà biết được. Hắn gườm Gaston một cái, ra vẻ phẫn nộ, thôi đi ông, biết điều thì đi đi cho tôi nhờ. Hắn không biết gườm hay Gaston không biết sợ mà y vẫn sừng sững đó tỉnh bơ.

Moi biết nó quá mà. Thu, sao toi ác quá.

Lời trách làm hắn ngạc nhiên. Nàng đang khóc cũng nín lại, không hiểu chuyện gì, có anh này xuất hiện từ đâu ra. Hắn đâm ra tò mò.

– Sao, moi ác chỗ nào?

– Ai biểu toi chơi nó!

Gaston la lô ra chiều bất bình lắm:

Moi biết con nhỏ này mà, nó còn trinh!

Y nhấn mạnh ba chữ “nó còn trinh” như thiếu điều đập bàn. Cáo trạng này đột ngột làm hắn giây phút tự hỏi hay là Gaston tình ngay mà lý gian, lẫn lộn với cô nào khác, còn trinh như y nói mà y biết thật. Hắn ngay đuôn ra mất một lát rồi mới bắt đầu nổi đóa, nói dằn từng tiếng:

– Thôi, toi đi chỗ khác ăn sáng đi, giờ moi không có rảnh mà nghe toi lảm nhảm.

Hắn lấy tờ hai chục đặt lên bàn.

Tưởng đâu Gaston chậm hiểu, nhìn y cầm hai chục “Ờ, moi đi nhe” hắn mới biết là mình chậm hiểu thì có. Nếu mà bụng đòi ăn sáng thì chuyện cãi vã của người khác nghĩa lý gì. Hắn thấy hơi hối hận nhưng mà tình cảnh đó hắn cũng không ngồi hầu nước cho Gaston được. Hắn thuộc loại người trọng vợ hơn bạn nên dù có đưa tiền ra có vẻ xúc phạm đến danh dự của Gaston hắn cũng không có cách nào khác. Có lẽ, từ đó, Gaston đâm ra khinh nhờn hắn cái phần lễ nghĩa.

Cách cư xử đó quả là có thiếu học thức, nhưng Gaston là người rộng lượng nên chẳng bao lâu là cũng quên đi chuyện cũ. Gặp lại hắn, y không giận vẫn đi ăn uống với hắn như thường. Cái chuyện dã tâm xé màng trinh nữ chính hắn không mang ra kể với người khác thì thôi chứ hắn không bao giờ nghe ai mách rằng Gaston mang cái độc địa ấy của hắn ra làm trò chê cười. Gaston ưa khoe khoang những chuyện hay đến với y chứ cũng chẳng bao giờ tọc mạch những chuyện dở đến với những người khác. Nhờ trùng họ với ông Tổng thống nên y nhận bà con xa gần gì đó, kể lại, bên Việt Nam y ra vào trong dinh để đá banh trên sân cỏ, có rất nhiều tình tiết mà thường thì chẳng ai tin cả, nghe lấy làm vui thôi như chuyện y đánh ma.

– Con ma nó tính nhát moi, nó đứng bên kia cửa nó đá một cái. Đù mẹ, moi đâu có sợ, moi cũng đá một cái.

Toi đá nó hả?

– Không, nó ở đằng sau cửa, nó đá cửa! Moi ở bên này, moi cũng đá cửa. Nó đá qua, moi đá lại, cái cửa rung gần gẫy.

– Rồi sao nữa…

– Thì nó đá một cái, moi đá một cái, nó đá hai cái rầm rầm, moi cũng đá cửa lại hai cái, moi đâu có thua.

– Rồi toi có thấy nó không?

– Riết moi sì nẹc, moi mở cửa ra luôn, nó sợ moi đá nó, nó biến.

Chuyện chỉ có vậy, về sau ai nghe thấy, có gặp y cũng bắt chính y thuật lại, lần nào cũng thế không thấy thêm mắm muối gì. Còn chuyện thằng này thế kia, thằng kia thế nọ như anh em gặp nhau thường đưa ra bàn tán thì không bao giờ thấy y đá động cả, tuy là, ở Paris, nếu biết nhiều chuyện về người khác nhất, thì nhất định không ai biết nhiều bằng Gaston.

Hắn biết được Gaston coi thường hắn là tự Gaston biểu lộ ra, chả phải ai nói lại hếd. Có buổi, đang trưa, thấy Gaston khệ nệ khuân cái bao to tướng, hắn động tình lại phụ.

– Thôi, vô đây uống nước cho đỡ mệt. Toi dọn nhà sao khiêng cái gì nặng ghê gớm vậy.

– Đâu có, moi đi học.

Hắn mở gói khủng ra, thấy toàn là sách. Đến năm sáu quyển gì đó, lại toàn là tự điển mới ác. Quyển nào cũng độ hai ba kí lô, Pháp-Pháp, Pháp-Việt, Việt-Pháp, Việt-Anh đầy đủ cả. Những thứ này, một cuốn thôi ôm cũng thấy khổ rồi chứ đừng nói mang nhiều đến thế. Nó thuộc loại vừa nặng vừa dày, bỏ cặp thì không vừa, bao nylon thì nó rách cả bao, ôm tay thì bất tiện. Vào thời điểm đó, chưa có nhà sách ở bên này để in lại bán nên tự điển phải có ai mang từ Việt Nam sang hoặc đóng thùng để gửi, cũng hiếm như các cô dâu chính hiệu mít đặc con nai vàng vậy. Hắn thì không có ý định ôm đồm cả mối kiến thức như thế, đi học thì cũng chẳng cần tự điển tiếng Việt làm gì, biết được bằng tiếng Tây cũng chưa xong, ai công đâu tra khảo. Có cái, có cuốn tự điển để đó đâu mất mát gì, thằng này túng tiền, lại xách nặng, thì thôi, để mua cho nó một cuốn. Hắn gạ hỏi:

Toi có quyền nào không cần, bán cho moi đi.

Moi đi học mà, Gaston nổi nóng! Đi học thì sách nào mà không cần! Đù mẹ, toi biết gì, toi không cần học chứ đã học phải cần sách!

Hắn hơi quê vì để thằng này nó Khổng Mạnh với mình, như đã bị chị vú lúc bé mắng “Em đi học mà ngồi lên sách làm sao chữ nghĩa nó vào được đầu.”

– Thì moi thấy toi khiêng nặng…

Moi đi học! Toi biết gì, đi học nặng nhẹ gì cũng phải khiêng!

Gaston gắt làm hắn đâm ra quê thật. Một, tự điển mình đã không có, lại coi thường cái uy quyền của sách vở và đòi bán với mua chữ nghĩa của người ta. Đồng tiền chỉ có giá trị đến chừng nào thôi chứ! Ở Gaston, con người có đói rách nhưng đồng tiền vẫn ngừng lại ở tủ sách. Mà sách, thử hỏi, có loại sách nào cao siêu hơn được tự điển? Gaston đã cầm sáu cuốn tự điển, là hàng sách thầy, sách cha, sách gì-cũng-biết thì mới bắt đầu đi học được. Nặng mà trời nắng thì có xá gì, phải như con lạc đà vào sa mạc của ông Zarathustra, có mang nặng rồi thì mới biến hóa uy dũng thành con sư tử được.

Cái uy dũng đó của Gaston, hắn có lần đã được chứng kiển. Nên nhắc lại, ngay cả với tầm vóc trung bình Việt Nam thôi, Gaston cũng đã hao hụt cả tấc tây, tuy là có dư chừng mươi ký. Vào lúc phong trào võ thuật đang cực thịnh tại trời Âu, khi mà anh em ai cũng tập kẻ quyền người cước, ít nhiều gì thì cũng biết đứng tấn thế thủ để hù Tây thì Gaston lại tỏ ra rất thờ ơ với đấm và đá. Có lẽ, tuy cùng là gốc gác Á đông nhưng tướng người Gaston, có nhận họ với thiên tài màn ảnh họ Lý cũng khó mà thuyết phục được địch thủ, dù nhăn nhó gầm gừ đến cỡ nào cũng không làm sao giống được nên quên nó đi là hơn cả. Đánh nhau, trước giờ chỉ nghe nói Gaston đánh ma như đã kể, còn đánh người thì tuyệt đối không. Đi lang bang ở những chốn ăn chơi, những chàng trai trẻ Việt ai cũng nhiều thành tích đánh Tây, đánh Rệp, đánh Lọ đủ cả, có chàng một mình đánh những năm ba dứa, chịu khó la cà café nghe các chàng kể lại rất ồn ào, nhiều khi học lỏm được vài ba thế đỡ gậy, đoạt dao ra làm sao nữa. Nhưng uy dũng của Gaston thì hắn được thấy tận mắt. Đó là do cái tinh thần chống Cộng quyết liệt, cái Quốc gia nhiệt thành của y mà ra.

Hôm đó, trời vừa sáng, nghĩa là vào cái giờ vừa mới giao sữa, bọn hắn bốn năm đứa ra đường đụng phải Gaston. Có lẽ bạn cũng chán cái chuyện ra đường gặp Gaston nhưng sự thực là như vậy, ra đường là phải gặp Gaston mà gặp Gaston thì cũng chỉ ở ngoài phố vì không ai đến nhà Gaston cả và Gaston cũng không đến nhà ai bao giờ vì không ai muốn cho y địa chỉ, giao du chốc lát với y thì được, đi ăn đi chơi không sao, dẫn y về nhà lỡ y ở lại luôn thì phiền phức lắm. Thành thử ra, Gaston, ai cũng quen biết, nhưng chỉ là thứ bạn hàng quán, thứ bạn vỉa hè như người Pháp có thứ bạn gọi là bạn bàn tin. Mà cái lúc sắp sáng, mới sáng hay giữa đêm mới dễ gặp y vì vắng người, với lại, nói thẳng ra, khó tránh được y, chẳng có chỗ nào mà núp được.

.

Café ở bên Pháp, những khu dạo phố, thì vào cái giờ chập choạng đó chỉ có những anh hùng hảo hán say xỉn ít nhiều nhưng vào lúc tiệc tàn nên ít khi có chuyện lôi thôi, thường lại là lúc người ta ưa thân mật. Paris, từ 4 giờ đến 6 giờ sáng ngày cuối tuần là cái giờ Tứ hải giai huynh đệ, như ở Mỹ tiệm rượu có giờ Happy Hour vậy. Bọn hắn, vào quán với Gaston, gặp ngay một đám vừa đen vừa trắng lại lè nhè thân thiện. Ai nấy cười qua loa, nó nói gì cũng chẳng ai nghe, để ý làm gì người chưa tỉnh rượu. Đột nhiên, thấy Gaston hét lên một tiếng, mọi người giật bắn người quay lại thấy y đang giằng co với một anh đen lực lưỡng, khổ người thước tám, thứ mà Huyền đai đệ tam đẳng Việt Nam ta, nếu có dịp may thu nhập được làm môn đệ, ắt phải đưa ra trong các màn biểu diễn để cho cầm gạch cầm ván mà thị uy với quần chúng.

Moi? Việt cộng! Pa phú la tết!

Gaston mặt mày phẫn nộ, con mắt đỏ ngầu như muốn nuốt sống anh Tây đen con mắt đang trắng dã ra vì kinh ngạc.

– Mẹc Việt cộng! Phú la tết! Toi công!

Gaston cung tay như muốn đánh, hắn vội vàng kéo lại. Chả lẽ tên này ỷ đông, cũng không đúng, vì phe kia đông cũng chẳng kém, thấy bạn bị đối xử như vậy cũng dàn ra tỏ vẻ bất bình.

Hắn thấy tình hình coi bộ bấp bênh, nếu để hai thằng này giải quyết tay đôi thì Gaston có đường theo Lý Tiểu Long về nơi chín suối mà múa võ mất, còn cả bọn can thiệp vào thì chưa chắc đã xong, sắp được về đi ngủ yên lành chẳng lẽ khi không lại phải bêu đầu sứt trán. Bèn chỉ có đường can gián, dùng giải pháp ôn hòa vậy, nhẹ nhàng mà hỏi: “Ồ, có chuyện gì vậy, mà tại sao?” Trong khi mấy đứa bạn lo ngăn Gaston lại, nạt nộ y: “Ê toi đừng lôi thôi”
Anh đen, sau phút ngạc nhiên tỉnh hẳn người ra và bắt đầu đâm ra cáu:

– Tao hỏi nó làm quen một câu “Phải mày Việt cộng” mà không phải thì thôi, merde, tụi bây muốn đánh lộn hả?

Hắn phân trần đại để là anh làm quen hỏi không đúng câu, danh từ “Việt cộng” là danh từ riêng để chúng tôi gọi nhau, nó có tính chất đặc biệt không tốt như là người ta gọi anh là mọi là mán vậy! Ngay cả người Việt chúng tôi, ai quốc gia chân chính lắm mới có quyền dùng chữ đó để gọi người khác, không phải ai dùng cũng được, anh làm ơn hiểu cho, thôi các anh uống gì để tụi tôi bao!

Ngày hôm đó, ra về ổn thỏa, tuy mặt mày nguyên vẹn nhưng hắn cũng ngủ ngay không được. Đành rằng, chỉ là sự ngộ nhận suýt nữa gây ra chuyện đáng tiếc nhưng hiện diện lúc đó, trong bọn hắn chẳng ai có được cái tinh thần khẳng khái bằng Gaston. Cả đám, y, sức lực đã chẳng bằng ai, lại mang quốc tịch Pháp và không có gánh vác ân huệ nào của chính thể Cộng hòa cả. Bọn hắn, kẻ ít người nhiều, không con ông này cũng cháu ông kia, thuộc loại gia đình không quyền thì thế, cơm vua lộc nước cũng nhiều, thế mà, khi bị xâm phạm như thế, chẳng thằng nào có cái ngang tàng khí phách cúa một Gaston cả, có lẽ, ai nấy đều lo giữ răng để mà ăn cháo chúa.

Không nói đến cha ông, cái mảng du học sinh sắp thành khoa bảng của dạo ấy ở Việt Nam rất là có giá. Với các chị không muốn lấy chồng đóng đồn xa, chết sớm đã đành, nhưng còn có giá ngay cả với nhà nước nữa. Tổng thống có công du sang Tây Đức, sinh viên ở Pháp cũng được mời sang thăm anh Tám, anh tặng cho họ cả bật lửa, xì gà. Cuối năm học, hè được ra về Việt Nam thơi thới, bộ Dân vận mời chào, dắt đi thăm các anh chiến sĩ miền cao nguyên hỏa tuyến, viếng đồng bào ở các vùng mới vừa được ổn định an ninh. Lỡ có bị xét giấy quân dịch, chỉ việc đưa tờ giấy đính kèm sổ thông hành của “Sinh viên về thăm nhà” ra là bảo đảm. Quân Dân Cảnh tròn xoe cả mắt ra nhìn ngưỡng mộ, khỏi cần phức tạp căn cước, động viên tại chỗ, nhân dân tự vệ lôi thôi. Đó là chưa kể chuyện lấy công xa của ông già, có tài xế, giữa giờ giới nghiêm đi thăm nhau, mẹ, thằng nào hỏi giấy đâu. Mà nào có cần cậy ai, năm ba năm nữa ông thành tài về nước thì nếu không theo đảng Cotab làm mưa làm gió thì cũng đứng đắn giữ chức vụ thứ trưởng này phó cục kia với các đàn anh nắm các Bộ có tính cách kỹ thuật. Bằng không, lấy vợ giàu, mở nhà thương tư, buồn buồn dám ra làm dân biểu đối lập, toi-moi với mấy thằng dân biểu thân chính bạn học cũ cùng băng. Tương lai rực rỡ đến độ phải đeo kính mát, ai ngu gì vài ba câu chụp mũ vô tình ở quán nước mà mang thân ra đỡ đạp với đỡ thoi. Thôi thì chịu thua cái can trường đó của con sư tử Gaston.

Cái đoạn biến hóa thành em bé trong đoạn đường sa mạc đưa đến trở thành siêu nhân đó của Gaston thì hắn không được mục kích. Mười lăm năm có đủ từ con sư tử để trở thành siêu nhân chưa, hắn không được biết. Thời thế đổi thay, bãi đất trống ở Montparnasse trước nhà ga trở thành cao ốc, lỗ hầm chợ Halles ngày xưa biến thành Forum thời trang, hắn về Paris, không có vợ lại cũng chẳng có đào, đi lang thang những con đường cũ tìm Gaston mà không gặp. Ờ, lạ nhỉ, dạo trước chỉ muốn tránh mà vẫn gặp, giờ đi tìm mà chẳng thấy.

Trong bụng hắn cũng cay Alex lắm, làm tao cuối tuần độc thân không giống ai. Mày thích đàn bà cơ hả, rủ được mày đi cua đào chung thế lại càng hay. Bạn cũ hắn ở Paris, dĩ nhiên chẳng có thằng nào làm cục trưởng cục này hay đông lý bộ kia thành ra hắn cũng chẳng muốn gặp. Duy có Gaston, con người cố hữu đỏ lại không tăm hơi, Ông đồ già Gaston của khu La Tinh dọn tự điển Anh-Pháp-Việt đi về đâu. Hay là, biết đâu Gaston lại chẳng chết đường chết chợ như nhà cuồng sĩ cùng quê với Nguyễn Tuân, lúc chết, thay vì úp một cuốn Kinh Dịch lên mặt thì úp một cuốn Nguyễn Văn Khôn hay Đào Duy Anh, nằm cứng đờ ở một cái điểm chợ tỉnh cũng nên.

Lúc trước, có ý mang Gaston ra để mà làm trò cười hay dở trò thương hại nhìn xuống để cho mình được chút độ lượng thì giờ hắn lại đâm ra nể y. Có lẽ, tại vì Gaston đã thuộc hẳn về cái quá khứ của chính hắn. Mười lăm năm sau, có làm gì để hơn được Gaston đâu. Định đi kiếm y cũng là để nói cho y biết. Này nhé, quay đầu lại, đằng sau lưng rực rỡ quá, tưởng chừng như phải đeo kính mát cho khỏi chói.

Ngoái lại cuối tuần, nhìn lại ai cũng gần thành tượng đá; trưa thứ Hai, hắn dậy thật trễ, lết ra quán vào lúc tờ Le Monde vừa mới ra. Lật trang quốc tế, có đến mấy đám mua quảng cáo kiến nghị phản đối đàn áp dân chúng biểu tình ở những vùng đất bị chiếm ở West Bank. Hắn cười khẩy, không biết giờ giá một phần tám trang như thế này là bao nhiêu. Lẩm nhẩm đọc tên những nhân vật ký dưới, những nhà trí thức, những nghệ sĩ, những nhà văn hắn vẫn còn nhận ra được khối người. Không thấy có Gaston-Ahmad-Nhi, Nguyễn Văn. Biết đâu giờ này y đã chẳng bỏ qua đi cái nguồn gốc ngoại của y mà quay về nguồn gốc nội, gỡ gạc lại cái phần Ả rạp ở trong người, cái mặt khác của chính mình để giao du với những phần tử Bắc Phi và Trung Đông dưới tên gọi là Gaston Ahmad để đoạn tuyệt với cái Gaston Nhi ngày xưa. Hắn tưởng tượng Gaston giờ để thêm râu cằm, vai khoác khăn rằn keffieh lên cơn phẫn nộ.

Moi? Do Thái? Pa phú la tết! Toi cồng!

Ừ, biết đâu. Được một lúc, hắn thấy nó bớt cái ấm ức của cuối tuần hẹn hụt. Hắn nghĩ. Hay bây giờ mình lại thử gọi cho Alex nữa đi.

(Từ tập truyện Cây Gậy Làm Mưa)

*

Về tập truyện Cây Gậy Làm Mưa

Mười một truyện trong tập này, chẳng mưa chẳng gió, là những truyện của một thoáng giật mình. Một cái ngoái cổ lại, hình như nghe có tiếng người hơi quen hay là là lạ gọi sau lưng.

Đó là những truyện của nhìn lại qua vai, một cái liếc thôi, đừng đi giật lùi ê coi chừng cột đèn, như một thùng đồ cũ trong kho gặp lúc dọn nhà, phải lôi ra soạn lại. Chẳng phải là một lá thư hay tấm ảnh, không được là một tấm bưu thiếp phía sau tiết máy hàng hỏi thăm. Một thùng đồ cũ, một cái quạt giấy hoa năm nào đi chơi miền biển, cả bộ bốn ly rượu mạnh trúng giải ở một gian hàng hội chợ, con dao tự động gọt khoai tây chạy bằng pin, cây đèn bão dầu hôi để cắm trại, vài ba thứ lỉnh kỉnh hơi quê mùa không bày được trong phòng khách, không thực dụng và cũng không còn ích lợi nhưng hơi ngại ngần chưa muốn quẳng hẳn đi.

Lúc dúi nó vào thùng đã thế. Độ vài, năm, mười năm sau lục ra, cầm lên tay, nhìn một vài, năm, mười phút, tự hỏi giờ đã đến lúc cho nó vào sọt rác chưa. Hay thôi, nhà có chỗ, lại cứ tạm bỏ vào thùng để đấy.

Như tiếng ngoắc của ai đó gọi. Ê. Ê, dám chừng anh này, chị này tôi có quen, tôi có quen ở đâu, ê, quen nhau mà, chậm chân lại. Nhưng mà, ngày hôm nay, giờ này, tôi đang bận, thôi, nhìn thẳng trước, rảo nhanh lên.

Đỗ Kh.

Ý kiến - Thảo luận

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)

Bài đã đăng

Tìm kiếm

Tiêu đề
Nội dung
Tác giả